Bệnh bạch hầu là gì? Triệu chứng và cách phòng bệnh

Chủ đề: Bệnh bạch hầu là gì? Triệu chứng và cách phòng bệnh

Bệnh bạch hầu là căn bệnh nguy hiểm do vi khuẩn Corynebacterium gây ra. Bệnh lan truyền chủ yếu qua tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp hoặc từ tổn thương da. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.

Nguyên nhân gây ra bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu lây truyền như thế nào

 

Bạch hầu loại bệnh truyền nhiễm, do trực khuẩn gram dương Corynebacterium diphtheriae gây ra. Bệnh có những biểu hiện ở niêm mạc đường hô hấp trên như viêm họng, viêm thanh quản hay niêm mạc mắt, bộ phận sinh dục, ở da, hoặc người lành mang trùng, không có triệu chứng.

Bệnh vừa có biểu hiện nhiễm trùng vừa có biểu hiện nhiễm độc(ngoại độc tố) và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.

Vi khuẩn Bạch hầu có tên Corynebacterium diphtheriae thuộc họ Corynebacteriaceae. Vi khuẩn Bạch hầu có 3 tuýp là Gravis, Intermedius và Mitis. Thông thường tuýp Mitis ít độc tính hơn và gây bệnh ít nghiêm trọng hơn.

Bệnh bạch hầu lây truyền như thế nào?

Đường lây truyền chủ yếu bao gồm tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp (trực tiếp hoặc qua giọt trong không khí) hoặc từ tổn thương da. Bệnh xảy ra quanh năm với tỷ lệ mắc cao nhất trong những tháng lạnh hơn. Ổ chứa vi khuẩn bạch hầu là ở người bệnh và người lành mang vi khuẩn. Đây vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh.

Có 5% người khỏe mạnh có thể có vi khuẩn ở hầu họng sau khi khỏi bệnh. Đây là người mang mầm bệnh nhưng không triệu chứng, điều này gây lây truyền bệnh bạch hầu.

Bệnh bạch hầu lây truyền như thế nào

Đáp ứng miễn dịch và lứa tuổi mắc bệnh bạch hầu

Miễn dịch (thông qua nhiễm trùng tự nhiên hoặc được hình thành sau tiêm vắc-xin):

  • Bệnh bạch hầu xuất hiện ở bất cứ đâu trên thế giới và đã gây nên các vụ dịch nghiêm trọng. Đặc biệt là thời điểm chưa có vắc-xin dự phòng cho trẻ. Năm 1923, vắc-xin phòng tránh bệnh bạch hầu ra đời và giúp kiểm soát căn bệnh này. Cho đến nay, tính nghiêm trọng của bệnh dịch đã thay đổi trên toàn thế giới.
  • Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới.
  • Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch nhất là ở trẻ dưới 15 tuổi chưa được gây miễn dịch đầy đủ. Lứa tuổi mắc phần lớn trẻ em dưới 15 tuổi

Đáp ứng miễn dịch và lứa tuổi mắc bệnh bạch hầu

Triệu chứng, Biểu hiện lâm sàng của bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu đường hô hấp

Các triệu chứng thường bắt đầu từ hai đến năm ngày sau khi nhiễm bệnh.

Biểu hiện lâm sàng gồm tổn thương tại vị trí vi khuẩn bạch hầu xâm nhập ở đường hô hấp như: họng, thanh quản… hay ở cơ quan khác như da, mắt… và biểu hiện toàn thân do nhiễm ngoại độc tố của vi khuẩn tiết ra tại tim, thận, thần kinh. Khởi đầu bệnh xảy ra mức độ từ từ tăng dần.

Bạch hầu họng

Gặp chủ yếu có tới hai phần ba trường hợp là amidan. Các triệu chứng thường gặp nhất là đau họng, khó chịu, nổi hạch cổ dưới hàm và sốt nhẹ. Phát hiện sớm nhất ở hầu họng là ban đỏ nhẹ, có thể tiến triển thành các đốm rải rác của dịch tiết màu xám và trắng. Trong ít nhất một phần ba trường hợp, có màng giả mạc tại nơi họng viêm gây ra sự hình thành một pseudomembrane kết hợp (bao gồm fibrin hoại tử, bạch cầu, hồng cầu, tế bào biểu mô và vi khuẩn) (hình 1). Màng này bám chặt vào các mô bên dưới và chảy máu khi cạo.

Trẻ mệt nhọc da xanh do độc tính toàn thân tăng lên khi pseudomembrane lây lan từ vùng amidan ra xung quanh.

Thể bệnh bạch hầu ác tính

Có liên quan đến “bạch hầu họng màng giả ” lan rộng cộng với sưng amidan, lưỡi gà , hạch bạch huyết dưới hàm và ở cơ ức đòn chum to, sưng (được gọi là “cổ bạnh” của bệnh bạch hầu, hình 4). Trong những trường hợp như vậy, đường hô hấp tại hầu họng thanh quản bị giả mạc bit tắc, dẫn đến suy hô hấp và tử vong.

Ở những bệnh nhân không được điều trị, thời kỳ nhiễm trùng bắt đầu khi khởi phát triệu chứng và kéo dài trong hai tuần ở phần lớn bệnh nhân; trong một số trường hợp, nó có thể kéo dài tới sáu tuần. Ở những bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh thích hợp, thời gian nhiễm trùng thường kéo dài dưới bốn ngày.

Các triệu chứng đường hô hấp khác thay đổi theo vị trí liên quan:

  • Bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu mũi thường gặp phải bệnh nhẹ và xuất hiện tình trạng chảy nước mũi / huyết thanh, có thể gây kích ứng nhẹ ở vùng bên ngoài và môi trên.
  • Bạch hầu thanh quản do màng này có thể lan rộng ở đường hô hấp từ đường mũi đến thanh khí quản. Thể này có biểu hiện cấp tính như khàn tiếng và ho ông ổng, khó thở thanh quản gây ngạt thở khi phát hiện xử trí muôn. Tuy nhiên bạch hầu thanh quản ít gặp hơn. Tuy nhiên bạch hầu thanh quản ít gặp hơn.
  • Nhiễm trùng khí quản thường phát triển thứ phát sau màng lan rộng và có thể dẫn đến tổn thương hô hấp, đặc biệt là ở trẻ em có đường thở nhỏ.

Biểu hiện toàn thân

Do ngoại độc tố bạch hầu có thể dẫn đến tổn thương tim (viêm cơ tim), hệ thần kinh và thận. Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 676 bệnh nhân nhập viện vì bệnh bạch hầu ở Cộng hòa Slovak, 30% có các dạng nặng bao gồm 22% bị viêm cơ tim; 28 phần trăm chỉ có bệnh amidan. Một báo cáo từ Phần Lan ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tim mạch là 28%.

Nguy cơ phát triển độc tính trên tim và /hoặc thần kinh tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng cục bộ. Viêm cơ tim (được chứng minh bằng các thay đổi điện tâm đồ như thay đổi sóng ST-T, kéo dài QTc và / hoặc khối tim độ một) có thể được phát hiện trong hai phần ba trường hợp. Khởi phát thường bắt đầu khi các triệu chứng hô hấp cục bộ đang cải thiện.

Biến chứng tim là nguyên nhân chính gây tử vong

Quá trình thời gian khởi phát viêm cơ tim là khác nhau; nó thường xảy ra 7 đến 14 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng hô hấp. Bạch hầu ác tính: có bệnh cơ tim khoảng 80% .Viêm cơ tim là một yếu tố tiên lượng xấu; đó là yếu tố dự báo tử vong cao nhất.

Độc tính thần kinh xảy ra ở khoảng 5 phần trăm bệnh nhân. Độc tính thần kinh là bất thường ở bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, nhưng nó có thể phát triển ở 75% bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu nặng. Bệnh thần kinh cục bộ (tê liệt vòm miệng mềm và thành họng sau) được theo dõi bởi các bệnh lý thần kinh sọ (thường là thần kinh thị giác, sau đó là liệt mặt hoặc thanh quản).

Viêm dây thần kinh ngoại biên phát triển vài tuần đến vài tháng sau đó và có thể kéo dài phổ lâm sàng từ yếu nhẹ đến tê liệt toàn bộ. Mức độ nghiêm trọng của bệnh tương quan với mức độ nghiêm trọng của sự hình thành màng (và do đó sản sinh độc tố) cũng như thời gian giữa khi xuất hiện triệu chứng và sử dụng thuốc chống độc .

Suy thận do hoạt động độc tố trực tiếp hoặc hạ huyết áp có thể xảy ra trong trường hợp nghiêm trọng.

Các chủng C. diphtheriae không có độc tính đã được liên quan đến các trường hợp viêm nội tâm mạc, phình động mạch cơ, viêm tủy xương và viêm khớp nhiễm trùng.

Nguồn: https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/suc-khoe-tong-quat/benh-bach-hau/

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: