Bệnh U lympho Hodgkin là gì? Có nguy hiểm không?

Chủ đề: Bệnh u lympho Hodgkin là gì? Có nguy hiểm không?

U lympho Hodgkin là một loại bệnh ung thư liên quan đến hạch bạch huyết. Vậy nguyên nhân gây bệnh, dấu hiệu, đặc điểm của u lympho Hodgkin là gì, bệnh u lympho Hodgkin có nguy hiểm không?

U lympho Hodgkin là gì?

U lympho Hodgkin với tên gọi khác là u bạch huyết Hodgkin hoặc ung thư hạch Hodgkin, là ung thư các hạch bạch huyết, thuộc hệ miễn dịch của cơ thể. U lympho Hodgkin bệnh học gây ra những tác động đối với tuyến bạch huyết, bạch cầu và lá lách. Đối tượng bị bệnh u lympho Hodgkin phần lớn là trước 30 tuổi và thường gặp ở nam giới nhiều hơn.

Có 2 loại u lympho Hodgkin, đó là:

  • U lympho Hodgkin có dạng hình nốt ưu thế tế bào lympho: Thường gặp ở nam giới dưới 30 tuổi. Vị trí xuất hiện khối u phần lớn là ở vùng cổ, nách và ở háng.
  • U lympho Hodgkin dạng cổ điển được chia thành 4 thể nhỏ, đó là: thể cục xơ cứng, thể hỗn hợp, thể giàu tế bào lympho và thể vắng tế bào lympho.

U lympho Hodgkin là gì?

Dấu hiệu và triệu chứng u lympho hogkin

Hầu hết bệnh nhân vào viện vì có hạch vùng cổ, hạch không đau. Mặc dù cơ chế chưa rõ ràng, đau có thể xảy ra ở các khu vực bị bệnh ngay sau khi uống đồ uống có cồn, do đó cung cấp một chỉ dẫn sớm để chẩn đoán.

Các biểu hiện khác xuất hiện khi bệnh tiến triển lan tràn và hệ liên võng nội mô, thường ở vị trí kế tiếp nhau Bệnh nhân có thể ngứa nhiều từ giai đoạn sớm. Các triệu chứng thường gặp bao gồm sốt, đổ mồ hôi vào ban đêm và giảm cân không chủ ý (> 10% trọng lượng cơ thể trong 6 tháng) có thể biểu hiện sự xâm nhập các hạch bạch huyết bên trong cơ thể (trung thất hoặc sau phúc mạc), nội tạng (gan) hoặc tủy xương. Bệnh nhân thường có lách to, cũng có thể có gan to. Sốt Pel-Ebstein (vài ngày sốt cao thường xuyên luân phiên với vài ngày đến vài tuần bình thường hoặc dưới nhiệt độ bình thường) đôi khi xảy ra. Suy kiệt thường gặp khi bệnh tiến triển.

Tổn thương tại xương thường không triêu chứng nhưng có thể gây ra tổn thương xương cột sống (đặc xương đốt sống) và hiếm gặp là đau có hủy xương, chèn ép cột sống. Các tổn thương nội sọ, dạ dày và ngoài ra hiếm gặp và thường gợi ý u lympho liên quan tới HIV.

Sự chèn ép tại chỗ do khối u thường gây ra triệu chứng, bao gồm:

  • Vàng da thứ phát do tắc đường mật trong hay ngoài gan.
  • Phù chân thứ phát do tắc nghẽn bạch huyết ở khung chậu hoặc bẹn.
  • Khó thở và thở khò khè do chèn ép khí phế quản
  • Áp xe phổi do hít xâm nhập nhu mô phổi, có thể gây viêm phổi thùy hay gây viêm phế quản phổi.
  • Xâm lấn màng cứng có thể gây chèn ép tủy dẫn đến liệt. Hội chứng Horner và liệt thanh quản có thể xảy ra khi các hạch lympho tăng kích thước chèn ép thần kinh giao cảm cổ và thần kinh thanh quản. Đau thần kinh do đè nén rễ thần kinh.

Chẩn đoán bệnh u lympho hogkin

Chẩn đoán bệnh u lympho hogkin

  • Chụp X-quang ngực
  • Chụp CTngực, bụng và khung chậu
  • Xét nghiệm máungoại vi, phosphatase kiềm, LDH, xét nghiệm chức năng gan, albumin, Canxi, Urê, và creatinine
  • Sinh thiết hạch
  • Chụp PET để đánh giá giai đoạn và chụp MRI nếu có triệu chứng thần kinh
  • Có thể sinh thiết tủy xương.

👉👉xem thêm: U lympho ác tính không hodgkin là gì? Có chữa được không?

U lymphô Hodgkin thường nghi ngờ ở những bệnh nhân bị nổi hạch không đau hoặc hạch trung thất được phát hiện trên chụp X-quang ngực thông thường. Hạch bệnh lý tương tự có thể gặp trong trường hợp nhiễm khuẩn tăng sinh bạch cầu đơn nhân, nhiễm toxoplasma, nhiễm CMV (virut đại bào), u lympho không Hodgkin hoặc bệnh bạch cầu. Các hình ảnh Xquang ngực tương tự có thể thấy ở bệnh nhân ung thư phổi, sarcoidosis hoặc lao (khi đánh giá hạch trung thất, xem Khối bất thường trung thất : Chẩn đoán).

Chụp Xquang ngực nếu chưa có Sau khi chụp X-quang, sinh thiết hạch thường được chỉ định nếu hình ảnh được xác định bởi CT ngực hoặc chụp PET ngực. Nếu chỉ có hạch trung thất lớn, nội soi trung thất hoặc thủ thuật Chamberlain (chỉ giới hạn cho trung thất trước bên trái, cho phép sinh thiết hạch trung thất không thể tiếp cận được bằng nội soi trung thất ) có thể được chỉ định. Sinh thiết dưới hướng dẫn của CT cũng có thể được cân nhắc, nhưng kết quả của sinh thiết kim thường không chính xác, vì vậy cần phải sinh thiết cốt lõi nếu cần thiết. Tổng phân tích máu ngoại vi, phosphatase kiềm, xét nghiệm chức năng thận, chức năng gan thường được thực hiện. Các xét nghiệm khác được thực hiện tùy thuộc vào kết quả khám lâm sàng và xét nghiệm (ví dụ chụp MRI nếu có chèn ép tủy).

Sinh thiết cho thấy các tế bào Reed-Sternberg (tế bào lớn, có hai nhân) trong quần thể tế bào có thâm nhiễm mô đệm không đồng nhất, bao gồm mô bào, tế bào lympho, bạch cầu mono, tương bào, bạch cầu ưa axit. U lympho Hodgkin có 4 phân typ mô bệnh học (xem phần Các thể mô bệnh học của u lympho Hodgkin (theo phân loại của WHO)); trong đó cũng có một loại mà tế bào lympho chiếm ưu thế. Một số kháng nguyên trên tế bào Reed-Sternberg có thể giúp phân biệt u lympho Hodgkin với u lympho không Hodgkin, u lymphô Hodgkin kinh điển với típ tế bào lympho chiếm ưu thế.

Các kết quả xét nghiệm khác có thể là bất thường nhưng không có giá trị chẩn đoán. Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi có thể thấy tăng nhẹ số lượng bạch cầu đa nhân. Giảm bạch cầu lympho có thể xảy ra sớm và nghiêm trọng khi bệnh tiến triển. Tăng bạch cầu ưa axit có thể gặp ở 20% bệnh nhân. Tăng tiểu cầu cũng có thể gặp. Thiếu máu thường gặp thiếu máu hồng cầu nhỏ và nặng hơn khi bệnh tiến triển. Trong thiếu máu tiên tiến, việc tái sử dụng sắt bị khiếm khuyết và được đặc trưng bởi sắt huyết thanh thấp, khả năng liên kết sắt thấp và tăng sắt trong tủy xương. Giảm ba dòng tế bào máu gặp ở số ít trường hợp do xâm lấn tủy xương, thường ở típ tan máu-tê bào lympho. Tình trạng lách tăng cường hoat động (Hypersplenism)xem Cường lách) có thể xảy ra ở những bệnh nhân lách to. Có thể có nồng độ alkaline phosphatase huyết thanh tăng cao, nhưng mức độ cao không phải lúc nào cũng liên quan đến tủy xương hoặc gan. Tăng phosphatase kiềm bạch cầu, haptoglobin huyết thanh và các chất phản ứng giai đoạn cấp tính khác thường phản ánh tình trạng bệnh hoạt động.

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: